BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ CỦA NGƯỜI SÁNG TÁC, NGƯỜI BIỂU DIỄN VÀ NHÀ SẢN XUẤT BẢN GHI KHI PHÁT SINH TRANH CHẤP TRÊN CÁC NỀN TẢNG TOÀN CẦU

Trong những năm qua thị trường âm nhạc Việt Nam phát triển mạnh mẽ với ngày càng nhiều nhạc sĩ và nhà sản xuất đưa tác phẩm âm nhạc, bản ghi lên các nền tảng toàn cầu như YouTube, Apple Music, Amazon Music, Spotify, v.v… Kéo theo đó, các tranh chấp sở hữu trí tuệ (SHTT) liên quan đến những tác phẩm âm nhạc, bản ghi ngày càng phức tạp và đa dạng, đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới cho pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật Hoa Kỳ, nơi phần lớn các nền tảng toàn cầu  đặt trụ sở chính. Trên thực tế, thị trường âm nhạc Việt Nam đã hội nhập toàn cầu trong bối cảnh công nghệ thông tin không ngừng phát triển, đặc biệt là với sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đặt ra những thách thức mới cho các nhà làm luật cũng như cho các chủ sở hữu quyền tác giả và quyền liên quan. 

Trước bối cảnh đó, người sáng tác, người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi cần phải chủ động xây dựng chiến lược và giải pháp tổng thể để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Việt Nam và, nếu cần, tại Hoa Kỳ khi phát sinh tranh chấp SHTT. Bước đầu tiên trong quá trình đó là xây dựng một nền móng pháp lý vững chắc tại cả Việt Nam và Hoa Kỳ.

Xây dựng nền móng pháp lý: đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam, pháp luật Hoa Kỳ và Công ước Berne đều ghi nhận một nguyên tắc nền tảng: quyền tác giả được bảo hộ tự động kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký. Tuy nhiên, nếu chưa đăng ký thì khi tranh chấp phát sinh, chủ thể quyền phải tự chứng minh quyền của mình bằng cách thu thập và giao nộp cho Tòa án các chứng cứ như bản thảo viết tay, tệp lưu trữ trên máy tính hay các hợp đồng liên quan. Hai bản án gần đây cho thấy công việc này có thể phức tạp và mất khá nhiều thời gian.

Trong cả hai vụ án, các tác giả đều chứng minh được quyền của mình và được Tòa án công nhận quyền tác giả, nhưng phải mất nhiều năm theo đuổi vụ kiện. Trong vụ án thứ nhất - một bản án sơ thẩm được công bố vào tháng 6 năm 2026 - hai nhạc sĩ được công nhận là đồng tác giả của một bài hát sau khi chứng minh được rằng tác phẩm đã được một ca sĩ biểu diễn công khai lần đầu trong một chương trình ca nhạc trên đài truyền hình và đoạt giải “Bài hát của tháng”. Riêng giai đoạn sơ thẩm đã kéo dài từ tháng 1 năm 2022 đến tháng 6 năm 2026.

Trong vụ án thứ hai – một bản án phúc thẩm đang được Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn, đề xuất phát triển thành án lệ – một nhà thơ được công nhận là tác giả của bài thơ sáng tác năm 2014, mặc dù người khác đã phổ nhạc bài thơ này và đăng ký quyền tác giả vào năm 2019. Nhà thơ đã chứng minh được rằng ông đăng tải toàn bộ bài thơ lên Facebook từ năm 2014 và vào năm 2019 đã lập vi bằng ghi nhận việc đăng tải đó. Vụ án kéo dài từ năm 2019 đến năm 2023.

Từ hai vụ án có thể rút ra hai bài học. Thứ nhất, ngay cả khi chưa đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam, tác giả vẫn có thể chứng minh quyền của mình và được Tòa án công nhận, nhưng phải mất nhiều thời gian theo đuổi vụ kiện. Vì vậy, đối với tác phẩm chưa đăng ký, tác giả nên chủ động bảo quản chứng cứ về thời điểm, hoàn cảnh sáng tác, như nhà thơ trong vụ án thứ hai đã làm, phòng trường hợp cần phải chứng minh trước Tòa án. Thứ hai, theo Luật SHTT, tổ chức, cá nhân đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả hoặc giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.

Trong vụ án thứ hai (bản án dự kiến được công bố làm án lệ), Tòa án đã chấp nhận chứng cứ ngược lại để xác nhận quyền tác giả của nhà thơ, đồng thời buộc người đã đăng ký phải khắc phục thông tin sai lệch trong hồ sơ đăng ký quyền tác giả và bồi thường thiệt hại. Điều đáng lưu ý là nếu nhà thơ đã đăng ký quyền tác giả ngay từ năm 2014 thì tranh chấp năm 2019 có lẽ đã không phát sinh vì Cục Bản quyền tác giả có thể đã từ chối đăng ký phần lời cho bài hát.

Như vậy, việc đăng ký tại Việt Nam mang lại một lợi thế pháp lý nhất định: giấy chứng nhận đăng ký giúp tác giả được miễn nghĩa vụ chứng minh quyền của mình, trừ khi có chứng cứ ngược lại. Đối với những bản nhạc được sáng tác từ nhiều năm trước, lợi thế này càng có ý nghĩa, bởi theo thời gian, chứng cứ ngày càng khó thu thập. Người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình cũng có lợi thế tương tự khi đăng ký quyền liên quan đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình của mình. Ngoài ra, giấy chứng nhận đăng ký là tài liệu gần như không thể thiếu khi yêu cầu xử lý vi phạm hành chính đối với bên xâm phạm tại Việt Nam. Cuối cùng, giấy chứng nhận đăng ký còn giúp rút ngắn và đơn giản hóa quá trình tố tụng tại Tòa án.

Xây dựng nền móng pháp lý: đăng ký bản quyền tại Hoa Kỳ

Về giá trị chứng minh, việc đăng ký tại Hoa Kỳ cũng có tác dụng tương tự như tại Việt Nam. Nếu một bên trong vụ kiện đã đăng ký bản quyền (pháp luật Hoa Kỳ không có phạm trù “quyền liên quan” mà bảo hộ bản ghi âm như một loại tác phẩm riêng thuộc khái niệm “bản quyền”) trước khi công bố hoặc trong vòng 5 năm kể từ lần đầu công bố tác phẩm thì giấy chứng nhận đăng ký sẽ được Tòa án mặc nhiên chấp nhận là chứng cứ chứng minh bản quyền và các nội dung ghi trong giấy chứng nhận. Khi đó, bên còn lại có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ngược lại. Tuy nhiên, nếu đăng ký sau 5 năm thì phải chứng minh bản quyền.

Cần lưu ý rằng, theo pháp luật Hoa Kỳ, việc đăng ký chỉ là điều kiện bắt buộc để khởi kiện đối với tác phẩm Hoa Kỳ (United States work). Đối với tác phẩm không phải là tác phẩm Hoa Kỳ, chẳng hạn tác phẩm được công bố lần đầu tại Việt Nam (một quốc gia thành viên Công ước Berne), chủ thể quyền vẫn có thể khởi kiện tại Hoa Kỳ mà không cần đăng ký trước; tuy nhiên, nếu chủ thể quyền Việt Nam có đăng ký tác phẩm tại Hoa Kỳ đúng thời hạn nêu trên, chủ thể quyền vẫn được hưởng những quyền lợi đặc biệt nêu dưới đây.

Pháp luật Việt Nam  cho phép Tòa án ấn định mức bồi thường khi chủ thể quyền chứng minh được thiệt hại vật chất nhưng không xác định được mức thiệt hại  theo các căn cứ luật định và buộc bên xâm phạm thanh toán chi phí hợp lý để thuê luật sư. Điểm khác biệt của pháp luật Hoa Kỳ là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo luật định và hoàn trả chi phí luật sư gắn với thời điểm đăng ký, đồng thời mức bồi thường cao hơn nhiều. Cụ thể, nếu việc đăng ký được thực hiện (i) trước thời điểm hành vi xâm phạm bắt đầu hoặc (ii) sau thời điểm hành vi xâm phạm bắt đầu nhưng giấy chứng nhận đăng ký đề ngày không quá 3 tháng kể từ lần công bố đầu tiên, thì chủ thể quyền: (x) có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại theo luật định từ 750 USD đến 30.000 USD cho mỗi tác phẩm bị xâm phạm, và lên đến 150.000 USD nếu hành vi xâm phạm là cố ý, mà không cần chứng minh thiệt hại thực tế hay khoản lợi nhuận mà bên xâm phạm thu được từ hành vi xâm phạm; và (y) có thể yêu cầu Tòa án buộc bên thua kiện phải hoàn trả chi phí luật sư hợp lý. 

picture1-1792054098.png
Luật sư Đặng Khải Minh, tác giả bài viết

Kết hợp đăng ký tại Việt Nam và Hoa Kỳ

Đối với quyền tác giả và các quyền liên quan phát sinh từ tác phẩm và bản ghi Việt Nam, dù đã đăng ký tại Việt Nam hay chưa, nếu không có giấy chứng nhận đăng ký tại Hoa Kỳ phát hành trong vòng 5 năm sau lần công bố đầu tiên, thì chủ thể quyền vẫn phải có nghĩa vụ chứng minh quyền sở hữu của mình trước Tòa án Hoa Kỳ. Nói cách khác thì khi có đăng ký tại Hoa Kỳ trong vòng 5 năm sau lần công bố đầu tiên và khi đăng ký tại Việt Nam, thì chủ thể quyền không cần phải chứng minh quyền tác giả hoặc quyền liên quan khi tiến hành tố tụng tại Việt Nam và không phải chứng minh bản quyền khi tiến hành tố tụng tại Hoa Kỳ.

Như vậy, khi những tác phẩm, bản ghi của Việt Nam được đưa lên các nền tảng có trụ sở tại Hoa Kỳ, thì việc đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam và bản quyền tại Hoa Kỳ là một biện pháp kết hợp dễ thực hiện nhằm xây dựng nền móng pháp lý vững chắc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan. Nền móng pháp lý đó cũng sẽ tạo thuận lợi cho chủ thể quyền trong việc đàm phán, thương lượng để bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình, tránh những vụ tranh tụng tốn kém và mất thời gian.

Các loại tranh chấp phát sinh trên các nền tảng toàn cầu và chiến lược giải quyết tranh chấp

Các tranh chấp SHTT có thể phát sinh trên các nền tảng toàn cầu khi một nội dung được đưa lên một nền tảng như YouTube, Apple Music, Amazon Music, Spotify, v.v.. và nội dung đó có thể xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan của chủ thể quyền Việt Nam. Bên xâm phạm có thể là một tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc một tổ chức, cá nhân nước ngoài. Tùy vị trí của chủ thể quyền Việt Nam, các tranh chấp này có thể chia thành hai loại: (a) chủ thể quyền Việt Nam là bên bị xâm phạm và cần chủ động yêu cầu bảo vệ quyền; và (b) chủ thể quyền Việt Nam là bên bị khiếu nại hoặc bị gỡ bỏ nội dung – chẳng hạn khi video của chính mình bị khiếu nại dựa trên tệp tham chiếu của bên khác – và cần tự bảo vệ.

Trong những trường hợp điển hình đó, chủ thể quyền Việt Nam có ba lựa chọn chiến lược cần được cân nhắc, xem xét: (1) thương lượng với bên xâm phạm hoặc khởi kiện tại Tòa án; (2) sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp nội bộ của nền tảng, điển hình là thủ tục tranh chấp khiếu nại Content ID của YouTube; và (3) yêu cầu nền tảng gỡ bỏ nội dung xâm phạm theo thủ tục thông báo – gỡ bỏ của pháp luật Hoa Kỳ. 

Yêu cầu gỡ bỏ theo Digital Millennium Copyright Act (“DMCA”) của Hoa Kỳ là một vũ khí lợi hại bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền trên các nền tảng có trụ sở tại Hoa Kỳ, với tác dụng trên phạm vi toàn cầu. Yêu cầu gỡ bỏ do người bị xâm phạm bản quyền gửi tới các nền tảng với mục đích yêu cầu nền tảng gỡ bỏ nội dung xâm phạm.

Khi nhận được yêu cầu gỡ bỏ, nền tảng không có nghĩa vụ, trách nhiệm xác định là yêu cầu gỡ bỏ hợp lệ, nền tảng sẽ thực hiện việc gỡ bỏ và thông báo việc gỡ bỏ cho người đã đăng tải nội dung bị cáo buộc là xâm phạm. Sau đó, người bị gỡ bỏ có quyền gửi thông báo cho nền tảng phản đối việc gỡ bỏ, nhưng phải nêu lý do. Nền tảng sẽ chuyển thông báo phản đối cho người yêu cầu gỡ bỏ. Sau đó, nền tảng có nghĩa vụ đăng lại các nội dung liên quan không sớm hơn 10 ngày làm việc và không muộn hơn 14 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo phản đối của người bị gỡ bỏ, nếu nền tảng không nhận được thông báo của người yêu cầu gỡ bỏ là đã khởi kiện người bị gỡ bỏ ra Tòa.

Như vậy, người yêu cầu gỡ bỏ phải khởi kiện và thông báo cho nền tảng trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày nền tảng nhận được thông báo phản đối của người bị gỡ bỏ nếu không muốn nền tảng đăng lại nội dung có liên quan. Tuy rằng việc có giấy chứng nhận đăng ký bản quyền không phải là một điều kiện tiên quyết để gửi yêu cầu gỡ bỏ, nhưng với khung thời gian chỉ 10 ngày làm việc, thì việc có giấy chứng nhận đăng ký bản quyền tại Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ không nhỏ cho việc thuyết phục nền tảng là yêu cầu gỡ bỏ là hợp lệ, đồng thời gửi thông báo cho bên vi phạm về căn cứ, cơ sở pháp lý của yêu cầu gỡ bỏ để khuyến khích đàm phán, và nếu cần, thì khởi kiện.

Bên cạnh đó, dù ở vị trí bên khiếu nại hay người đăng tải, chủ thể quyền Việt Nam cần lưu ý hai rủi ro của thủ tục này. Thứ nhất, người cố ý trình bày sai sự thật trong yêu cầu gỡ bỏ hoặc trong thông báo phản đối có thể phải bồi thường thiệt hại, bao gồm cả chi phí luật sư, cho bên bị thiệt hại. Thứ hai, người gửi thông báo phản đối phải đồng ý chấp nhận thẩm quyền của Tòa án liên bang Hoa Kỳ và chấp nhận việc tống đạt giấy tờ tố tụng từ bên yêu cầu gỡ bỏ; nói cách khác, người phản đối việc gỡ bỏ được coi là đã chấp nhận khả năng bị kiện tại Hoa Kỳ. Vì yêu cầu gỡ bỏ là một biện pháp mạnh có thể nhanh chóng dẫn đến tranh tụng, nên chủ thể quyền cũng cần cân nhắc xem xét việc giải quyết tranh chấp thông qua quy trình giải quyết nội bộ của các nền tảng.

picture2-1792054098.png
Luật sưLê Quang Vy, đồng tác giả bài viết

Tranh chấp trong hệ sinh thái YouTube

Hệ thống Content ID

YouTube đã xây dựng một cơ sở dữ liệu khổng lồ, thường được gọi là Content ID, bao gồm các tệp tham chiếu (reference files) do các chủ thể quyền được YouTube chấp thuận cung cấp, thường là các tập đoàn lớn có quy mô toàn cầu như Universal Music Group hoặc Sony Music. YouTube không tiếp nhận vào Content ID nội dung do cá nhân cung cấp và cũng thường từ chối tiếp nhận nội dung của các tổ chức, doanh nghiệp không đáp ứng các tiêu chí của YouTube về quy mô doanh nghiệp.

Nhà sáng tạo muốn đưa nội dung vào Content ID thì phải hợp tác với một đối tác được YouTube chấp thuận, chẳng hạn nhà phân phối nhạc số hoặc mạng lưới đa kênh (Multi-Channel Network – MCN). Các đối tác này là đơn vị trung gian hỗ trợ nhà sáng tạo phân phối sản phẩm của mình. Cụ thể, nhà sáng tạo cung cấp nội dung gốc cho đối tác và đối tác sẽ đưa nội dung đó vào Content ID làm tệp tham chiếu (dữ liệu nhận dạng).

Sẽ có 2 trường hợp phát sinh tranh chấp: (i) video của chủ thể quyền đăng lên bị khiếu nại Content ID; và (ii) nội dung tham chiếu trong Content ID có nội dung xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của chủ thể quyền.

Trường hợp (i): video của chủ thể quyền đăng lên bị khiếu nại Content ID

Trong trường hợp này, sản phẩm mà người đăng tải đưa lên YouTube bị dán nhãn là “có Content ID Claim”, tức là có khiếu nại Content ID vì YouTube tự động quét tìm những video có nội dung (âm thanh hay hình ảnh) trùng khớp với tệp tham chiếu. Khi đó, YouTube sẽ xử lý khiếu nại Content ID theo lựa chọn của bên khiếu nại, tức bên có tệp tham chiếu trong Content ID trùng khớp với sản phẩm mới.

Khi được chấp nhận tham gia vào hệ thống Content ID thì chủ thể quyền có tệp tham chiếu (bên khiếu nại) phải chọn một trong ba giải pháp khi có khiếu nại Content ID: (i) chặn (block); (ii) theo dõi (track); hoặc (iii) hưởng doanh thu từ sản phẩm vi phạm (monetization). Hiện nay, giải pháp thứ ba là giải pháp thông dụng nhất vì YouTube sẽ chuyển doanh thu, lợi nhuận phát sinh từ sản phẩm vi phạm sang cho bên khiếu nại. Cần lưu ý rằng việc chặn theo Content ID không dẫn đến cảnh cáo bản quyền (copyright strike), trong khi gỡ bỏ theo DMCA thì có.

Về phía người đăng tải, giải pháp đầu tiên là chấp nhận khiếu nại và chỉnh sửa trực tiếp sản phẩm bị khiếu nại. YouTube cho phép thực hiện một số chỉnh sửa, bao gồm: (i) cắt bỏ đoạn bị khiếu nại, bao gồm cả hình ảnh và âm thanh trong đoạn đó; (ii) thay thế phần nhạc bị khiếu nại bằng một bài nhạc khác trong YouTube Audio Library; (iii) tắt tiếng bài hát bị khiếu nại; hoặc (iv) tắt toàn bộ âm thanh trong đoạn bị khiếu nại. Nếu việc chỉnh sửa thành công, khiếu nại Content ID sẽ được YouTube tự động gỡ bỏ. Trong trường hợp này, người đăng tải video vẫn giữ nguyên địa chỉ web và số lượt xem trước đó.

Nếu không chỉnh sửa và sản phẩm mới bị chặn hoặc doanh thu, lợi nhuận từ sản phẩm mới bị YouTube chuyển cho bên khiếu nại thì người đăng tải có thể lựa chọn giữa các giải pháp sau đây: (i) đàm phán, thương lượng, hòa giải; hoặc (ii) sử dụng thủ tục thông báo tranh chấp và kháng cáo của YouTube. Cần phân biệt với trường hợp sản phẩm bị gỡ bỏ theo yêu cầu gỡ bỏ DMCA: khi đó, thủ tục tranh chấp Content ID không áp dụng; người đăng tải có thể gửi thông báo phản đối việc gỡ bỏ và đợi xem YouTube có đăng tải lại sản phẩm của mình nếu bên khiếu nại không kịp thời khởi kiện, hoặc tham gia vụ kiện nếu bên khiếu nại khởi kiện.

Để tiến hành thủ tục thông báo tranh chấp, người đăng tải sẽ đưa ra một thông báo tranh chấp khẳng định việc dán nhãn “có khiếu nại Content ID” là sai vì sản phẩm của mình không xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan của bên khiếu nại. Khi nhận được thông báo tranh chấp, YouTube sẽ gửi thông báo cho bên khiếu nại và bên khiếu nại sẽ có 30 ngày để trả lời thông báo tranh chấp. Bên khiếu nại có thể (i) từ bỏ khiếu nại Content ID; (ii) giữ nguyên khiếu nại Content ID; hoặc (iii) không trả lời. Trong trường hợp thứ ba thì khiếu nại Content ID sẽ hết hiệu lực sau 30 ngày. Nếu bên khiếu nại giữ nguyên khiếu nại Content ID thì người đăng tải có thể kháng cáo. Trong thời gian giải quyết tranh chấp thì YouTube sẽ giữ lại doanh thu phát sinh từ video bị khiếu nại nếu có và sẽ chuyển cho bên có quyền khi tranh chấp đã được giải quyết.

Thủ tục giải quyết kháng cáo của YouTube tương tự như thủ tục giải quyết tranh chấp. Bên kháng cáo phải đưa ra cơ sở, căn cứ chi tiết đối với nội dung kháng cáo. Trong vòng 7 ngày sau khi kháng cáo được nộp thì bên khiếu nại phải có ý kiến phản hồi từ bỏ khiếu nại Content ID hoặc gửi thông báo DMCA yêu cầu gỡ bỏ. Nếu bên khiếu nại không có ý kiến phản hồi thì được coi là đã từ bỏ khiếu nại Content ID. Người kháng cáo cần lưu ý rằng nếu bên khiếu nại phản hồi bằng yêu cầu gỡ bỏ, sản phẩm của bên kháng cáo sẽ bị gỡ và kênh bị cảnh cáo bản quyền (và nếu bị cảnh cáo 3 lần thì YouTube sẽ chấm dứt không cho kênh hoạt động tiếp). Do vậy, để đối phó với yêu cầu gỡ bỏ của bên khiếu nại đưa ra sau khi nhận thông báo kháng cáo, bên kháng cáo gần như buộc phải đưa ra thông báo phản đối gỡ bỏ và tiến đến giải quyết tranh chấp thông qua tranh tụng hoặc hòa giải.

Cần lưu ý, trong trường hợp bên khiếu nại đã lựa chọn ngay từ đầu là chặn sản phẩm có khiếu nại Content ID, thì người đăng tải không cần thực hiện thủ tục thông báo tranh chấp mà có thể thực hiện ngay thủ tục kháng cáo.

Trường hợp (ii): nội dung tham chiếu trong Content ID có nội dung xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan của chủ thể quyền

Ví dụ, một bản nhạc Việt Nam đã sáng tác nhiều năm nay được phối lại mà không được tác giả cho phép, và bản phối lại này được bên khác đưa lên nền tảng YouTube, đồng thời đưa vào cơ sở dữ liệu Content ID làm tệp tham chiếu. Khi chủ thể quyền Việt Nam chưa có nội dung tham chiếu trong Content ID, bản phối lại trái phép sẽ không bị hệ thống dán nhãn có khiếu nại Content ID, và do đó cơ chế tranh chấp nội bộ của YouTube không áp dụng được. Trong trường hợp này, tùy từng tình huống, chủ thể quyền có thể lựa chọn: (i) khiếu nại trực tiếp với bên đã đưa nội dung xâm phạm vào cơ sở dữ liệu Content ID; (ii) yêu cầu YouTube gỡ bỏ theo DMCA; hoặc (iii) nếu chủ thể quyền tự đăng tải bản ghi của chính mình lên YouTube và bị khiếu nại dựa trên tệp tham chiếu của bên xâm phạm – tình huống phổ biến nhất trên thực tế – thì chủ thể quyền, với tư cách người đăng tải, có thể sử dụng thủ tục tranh chấp khiếu nại Content ID để khẳng định quyền sở hữu của mình, đồng thời đề nghị YouTube xem xét tính hợp lệ của tệp tham chiếu đó.

Tranh chấp trên các nền tảng streaming khác

Đối với các nền tảng streaming như Apple Music, Spotify, Amazon Music, có thể tốt nhất là các bên đạt được thỏa thuận hòa giải có cơ sở là phân chia doanh thu, lợi nhuận phát sinh từ việc bên xâm phạm khai thác tác phẩm bị xâm phạm. Do vậy, chủ thể quyền nên gửi thư yêu cầu cho bên xâm phạm trước, nêu rõ căn cứ pháp lý và khả năng gửi yêu cầu gỡ bỏ, qua đó sử dụng khả năng gửi yêu cầu gỡ bỏ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán như đã phân tích. Nếu không đạt được thỏa thuận hoặc không nhận được phản hồi trong một thời hạn hợp lý thì mới xem xét dùng thủ tục yêu cầu gỡ bỏ gửi cho các nền tảng streaming. Lưu ý là mỗi nền tảng có những mẫu đơn khiếu nại riêng, do đó, chủ thể quyền nên nộp đồng thời đơn theo mẫu của nền tảng và thông báo gỡ bỏ theo DMCA.

Hơn nữa, nên cân nhắc là trước khi khiếu nại với các nền tảng thì có nên khiếu nại với các nhà phân phối nhạc số hay không. Trên thực tế, hầu hết các nội dung  được đưa lên các nền tảng streaming đều  thông qua các nhà phân phối nhạc số; do đó, khiếu nại gửi tới nhà phân phối đã đưa nội dung xâm phạm lên nền tảng thường được xử lý nhanh hơn so với khiếu nại gửi trực tiếp tới nền tảng.

Kết luận

Đối với các tranh chấp SHTT liên quan đến những tác phẩm sáng tác, sản xuất tại Việt Nam đã đưa lên các nền tảng toàn cầu, chủ thể quyền nên giải quyết theo quy trình thủ tục sau đây. Bước đầu là đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan tại Việt Nam và bản quyền tại Hoa Kỳ để xây dựng nền móng pháp lý. Việc đăng ký kịp thời tại Hoa Kỳ, ngoài việc đơn giản hóa vấn đề chứng minh bản quyền, cũng sẽ mang lại cho chủ thể quyền hai lợi ích bổ sung quan trọng là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo luật định mà không phải chứng minh thiệt hại thực tế và khả năng được Tòa án buộc bên xâm phạm  hoàn trả chi phí luật sư hợp lý. Chính hai lợi ích này sẽ tạo thuận lợi trong đàm phán bởi nguy cơ phải bồi thường theo luật định (có thể lên đến 150.000 USD cho mỗi tác phẩm nếu xâm phạm cố ý) và gánh chi phí luật sư của đối phương sẽ thúc đẩy bên xâm phạm sớm tìm giải pháp hòa giải.

Nếu hòa giải thông qua thương lượng, đàm phán trực tiếp giữa chủ thể quyền và bên xâm phạm hoặc thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp nội bộ của nền tảng có liên quan không thành, thì bước tiếp theo là sử dụng yêu cầu gỡ bỏ theo DMCA. Việc giải quyết tranh chấp trước Tòa chỉ nên là lựa chọn sau cùng khi các giải pháp hòa giải không còn thực hiện được.

Ls. Đặng Khải Minh (Đoàn Luật sư California)

YKVN LLP (Singapore)

Ls. Lê Quang Vy (Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh)

Công ty Luật TNHH YKVN

Ls. Đặng Khải Minh, Ls. Lê Quang Vy