ÂM NHẠC TRONG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HOÁ

Phát triển Công nghiệp Văn hoá trong kỷ nguyên số (Bài 01)

Bài viết phân tích sự chuyển dịch chiến lược của ngành Công nghiệp văn hóa từ một lĩnh vực mang tính phong trào sang một hệ sinh thái kinh tế dựa trên trí tuệ và bảo hộ bản quyền.

Thông qua việc hệ thống hóa các khái niệm cốt lõi từ UNESCO và đối chiếu với các văn kiện pháp lý mang tính bước ngoặt như Nghị quyết số 33-NQ/TW, Kết luận số 80-KL/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị và đặc biệt là các định hướng phát triển đất nước từ Đại hội lần thứ XIV của Đảng, bài viết làm rõ thực trạng đóng góp 3,92% GDP và lộ trình đạt trên 10% GDP vào năm 2045.

Trong đó, âm nhạc, điện ảnh và các hoạt động giải trí số được xác định là những ngành chủ lực tiên phong, dẫn dắt sức mạnh mềm quốc gia. Bài viết đề xuất hệ thống giải pháp đột phá nhằm tháo gỡ các nút thắt về thể chế, vốn và công nghệ, khẳng định văn hóa chính là động lực thịnh vượng bền vững cho dân tộc trong bối cảnh hiện nay.

Định vị khái niệm và Sự chuyển dịch tư duy chiến lược trong kỷ nguyên mới

Để hiểu đúng về vị thế của văn hóa trong nền kinh tế hiện đại, trước hết cần thực hiện một cuộc cách mạng trong tư duy nhằm định vị lại khái niệm Công nghiệp văn hóa. Trong bối cảnh hiện nay, Công nghiệp văn hóa không còn bó hẹp trong những hoạt động văn nghệ mang tính phong trào hay những biểu hiện của tinh thần "vị nghệ thuật" thuần túy mà đã trở thành một tổ hợp kinh tế đặc thù, mang tính liên ngành và tích hợp cao.

img-9153-1774758255.jpeg
Phát triển Công nghiệp Văn hoá trong kỷ nguyên số 

Đây là nơi sức sáng tạo, tri thức và kỹ năng chuyên biệt của con người được vật chất hóa thông qua các nền tảng công nghệ hiện đại để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mang hàm lượng văn hóa và giá trị gia tăng vượt trội. Theo định nghĩa của UNESCO tại Công ước 2005, đây là sự kết hợp giữa sáng tạo, sản xuất và thương mại hóa các nội dung có bản chất văn hóa, vô hình và mang tính biểu trưng, thường được bảo hộ bởi bản quyền. Sự kết hợp này tạo ra một vòng đời sản phẩm khép kín, nơi giá trị tinh thần được chuyển hóa thành giá trị kinh tế một cách khoa học và bền vững.

Tại Việt Nam, tinh thần này đã được luật định rõ nét tại Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, văn hóa được xác lập là sức mạnh nội sinh quan trọng nhất, là hệ điều hành bảo đảm sự phát triển bền vững của quốc gia. Việc phát triển công nghiệp văn hóa chính là cụ thể hóa quan điểm xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, biến di sản thành tài sản, hiện thực hóa khát vọng quốc gia văn hiến, văn minh theo tinh thần Kết luận số 80-KL/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị.

Sự chuyển dịch tư duy này đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận văn hóa không chỉ là đối tượng thụ hưởng ngân sách mà phải là một khu vực tạo ra lợi nhuận, việc làm và giá trị thặng dư lớn. Đây là một bước ngoặt về nhận thức từ quản lý văn hóa sang quản trị sáng tạo, từ bảo tồn tĩnh sang phát triển động, tạo tiền đề cho việc hình thành một nền kinh tế sáng tạo vững mạnh, tương xứng với tiềm năng của một dân tộc có bề dày lịch sử hàng nghìn năm.

Đặc trưng cốt lõi và Hệ thống nhận diện chuỗi giá trị thực chứng

Đặc trưng khu biệt của công nghiệp văn hóa nằm ở tính tái tạo vô tận và sự phụ thuộc tuyệt đối vào hệ thống Sở hữu trí tuệ. Trong cấu trúc kinh tế sáng tạo, nếu thiếu đi sự bảo hộ nghiêm ngặt của Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 với các quy định siết chặt về bảo hộ tác quyền trên không gian số, mọi giá trị sáng tạo đều trở nên vô nghĩa về mặt kinh tế, thậm chí là bị triệt tiêu động lực tái sản xuất.

Bản quyền không chỉ là công cụ pháp lý mà còn là hệ điều hành của toàn bộ ngành công nghiệp, giúp chuyển hóa các biểu tượng, âm thanh và hình ảnh vốn dĩ vô hình thành những loại hàng hóa đặc biệt có giá trị kinh tế lớn. Khi quyền sở hữu trí tuệ được thực thi nghiêm minh, nó sẽ tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích các nhà sáng tạo không ngừng đổi mới và đầu tư chuyên sâu vào các tác phẩm có giá trị cao.

Chính cơ chế này đã biến văn hóa thành một ngành công nghiệp không khói bền vững, cho phép chúng ta tiết giảm tối đa việc tiêu tốn tài nguyên hữu hình, trong khi lại có thể khai thác vô tận nguồn tài nguyên trí tuệ của dân tộc. Dấu hiệu nhận diện một ngành công nghiệp văn hóa thực thụ bao gồm sự hình thành chuỗi giá trị khép kín từ khâu sáng tạo nội dung, khâu sản xuất ứng dụng công nghệ, khâu phân phối đa nền tảng cho đến khâu tiêu dùng trải nghiệm.

Chuỗi giá trị này tạo nên một mạng lưới gia tăng liên tục, nơi mà văn hóa không chỉ để thưởng thức mà còn để vận hành nền kinh tế một cách khoa học và chuyên nghiệp. Sự tương tác chặt chẽ giữa các mắt xích trong chuỗi giá trị này đảm bảo rằng mỗi sản phẩm văn hóa khi ra đời đều mang trong mình cả bản sắc dân tộc lẫn hơi thở của thời đại, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và quốc tế.

Vai trò của các ngành chủ lực trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

Trong lòng hệ sinh thái Công nghiệp văn hóa, các ngành chủ lực đóng vai trò là những bánh răng then chốt vận hành toàn bộ guồng quay kinh tế sáng tạo của đất nước. Âm nhạc được xác lập là nhịp đập và là chất xúc tác mạnh mẽ nhất, không chỉ tồn tại như một sản phẩm giải trí độc lập mà còn là thành tố định vị cảm xúc cho điện ảnh, trò chơi điện tử và quảng cáo thương mại.

Với khả năng số hóa triệt để, âm nhạc dẫn đầu trong việc khai thác giá trị bản quyền xuyên biên giới trên các nền tảng trực tuyến, tạo ra dòng lưu chuyển ngoại tệ nhanh chóng và hiệu quả. Một tác phẩm âm nhạc có sức lan tỏa toàn cầu có thể làm thay đổi hoàn toàn vị thế sức mạnh mềm của một quốc gia chỉ trong thời gian ngắn, tạo ra hiệu ứng cộng hưởng tích cực cho các ngành kinh tế phụ trợ khác như du lịch âm nhạc và dịch vụ giải trí.

Song hành cùng âm nhạc, Điện ảnh đóng vai trò là mặt trận tổng lực nhất, tích hợp mọi loại hình nghệ thuật từ văn học, mỹ thuật, diễn xuất đến thiết kế thời trang và kỹ xảo công nghệ hiện đại. Điện ảnh không chỉ đơn thuần là giải trí tại rạp mà còn là công cụ quảng bá hình ảnh quốc gia, bản sắc văn hóa và lối sống hiệu quả nhất ra thế giới. Trong bối cảnh hiện nay, điện ảnh Việt Nam đang đứng trước cơ hội vốn hóa bản sắc dân tộc để thâm nhập sâu vào các nền tảng streaming toàn cầu, biến những câu chuyện bản địa mang đậm tâm hồn Việt thành giá trị kinh tế quốc tế.

Bên cạnh đó, các hoạt động giải trí tổng hợp và nghệ thuật biểu diễn đóng vai trò là điểm chạm tương tác trực tiếp, tạo ra những giá trị trải nghiệm không thể thay thế. Từ các lễ hội âm nhạc quốc tế đến các không gian sáng tạo và kinh tế ban đêm, đây chính là khu vực thu hút dòng vốn đầu tư hạ tầng lớn nhất, góp phần quan trọng vào việc kích cầu tiêu dùng nội địa và định vị thương hiệu điểm đến quốc gia.

Công nghiệp văn hóa trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và Kỷ nguyên số

Kỷ nguyên số đã và đang làm thay đổi căn bản cấu trúc và phương thức vận hành của ngành công nghiệp văn hóa, biến nó trở thành một nền kinh tế nền tảng đầy tiềm năng và không giới hạn biên giới. Công nghệ số không chỉ đơn thuần là công cụ hỗ trợ phân phối mà còn trở thành môi trường sáng tạo mới, nơi mọi rào cản về địa lý và khoảng cách đều bị xóa nhòa. Kết luận số 80-KL/TW đã xác định rõ việc làm chủ không gian mạng và ứng dụng công nghệ hiện đại là nhiệm vụ chiến lược để bảo vệ chủ quyền văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc ứng dụng Trí tuệ nhân tạo vào quy trình sáng tác âm nhạc, phục dựng tư liệu điện ảnh hay cá nhân hóa trải nghiệm người dùng đang tạo ra một bước nhảy vọt về cả năng suất lao động lẫn doanh thu thực tế cho toàn ngành.

img-9158-1774762298.jpeg

Hơn thế nữa, sự trỗi dậy của các loại hình tài sản số và công nghệ chuỗi khối đã thiết lập nên các tiêu chuẩn mới về minh bạch hóa quyền sở hữu trí tuệ trên không gian số. Trong kỷ nguyên này, các sản phẩm văn hóa không chỉ mang giá trị nghệ thuật đơn thuần mà còn là những đơn vị dữ liệu có giá trị kinh tế cao, giúp quốc gia khẳng định uy tín văn hóa trên bản đồ tri thức thế giới. Sự giao thoa giữa văn hóa và công nghệ số còn thúc đẩy sự hình thành của mô hình kinh tế sáng tạo dựa trên dữ liệu, giúp các nhà sản xuất có thể phân tích hành vi người dùng để tinh chỉnh sản phẩm tiệm cận chính xác hơn với thị hiếu toàn cầu. Điều này không chỉ nâng cao hiệu quả kinh doanh mà còn giúp giảm thiểu rủi ro đầu tư, tạo ra một môi trường phát triển nghệ thuật bền vững và chuyên nghiệp trong tương lai.

Lộ trình chiến lược đến năm 2045 và Tầm nhìn kinh tế sáng tạo quốc gia

Trong lộ trình phát triển được xác định tại các văn kiện pháp luật hiện hành và định hướng chiến lược từ Đại hội XIV, Việt Nam đã đặt ra những mục tiêu cụ thể và đầy khát vọng cho tương lai. Đến năm 2030, phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và tầm nhìn đến năm 2045, con số này được kỳ vọng đạt trên 10% GDP, chính thức trở thành một trung tâm sáng tạo hàng đầu của khu vực và thế giới. Để hiện thực hóa tầm nhìn này, sự phát triển của các ngành chủ lực như âm nhạc và điện ảnh được coi là mũi nhọn kéo toàn bộ toa tàu kinh tế văn hóa về đích đúng lộ trình.

Sự bùng nổ của các sự kiện văn hóa mang tầm vóc quốc tế tại Việt Nam trong thời gian qua đã chứng minh khả năng kích cầu mạnh mẽ đối với hạ tầng dịch vụ và thu hút ngoại tệ, tạo ra hiệu ứng lan tỏa tích cực cho nền kinh tế quốc gia. Tầm nhìn 2045 không chỉ dừng lại ở các con số tăng trưởng cơ học mà còn hướng tới việc xây dựng một quốc gia văn hiến, nơi bản sắc dân tộc được bảo tồn và phát huy bền vững thông qua sức mạnh của công nghệ và tư duy thương mại hóa văn minh. Việt Nam sẽ không chỉ là quốc gia gia công sản phẩm văn hóa mà phải trở thành trung tâm sáng tạo nội dung, nơi khởi nguồn của những giá trị nghệ thuật có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến cộng đồng quốc tế, góp phần khẳng định vị thế và uy tín dân tộc trên trường quốc tế.

Hệ thống các giải pháp kiến tạo đột phá

Mặc dù tiềm năng và dư địa phát triển của ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam là rất lớn, song thực tế vẫn tồn tại những nút thắt về thể chế, sự manh mún trong đầu tư hạ tầng và những thách thức về thực thi bảo hộ bản quyền trên không gian số. Để chuyển hóa nguồn tài nguyên trí tuệ dân tộc thành động lực thịnh vượng bền vững như mục tiêu Đại hội XIV đã đề ra, việc thiết lập một hệ thống giải pháp đồng bộ và đột phá là yêu cầu cấp thiết nhằm tháo gỡ các rào cản hiện hữu và kiến tạo một hệ sinh thái sáng tạo minh bạch, chuyên nghiệp.

Thứ nhất tập trung vào việc hoàn thiện khung khổ pháp lý và cơ chế chính sách theo hướng quản trị kiến tạo, bám sát tinh thần chỉ đạo của Kết luận số 80-KL/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị. Việc đổi mới thể chế phải lấy ưu tiên bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ làm trọng tâm theo quy định của Luật số 131/2025/QH15, đồng thời xây dựng các quy định cụ thể về ưu đãi thuế, tín dụng và bảo hiểm rủi ro trong sáng tạo nghệ thuật. Chính phủ cần sớm ban hành các nghị định hướng dẫn chi tiết nhằm thu hút tối đa nguồn lực xã hội hóa, tạo hành lang thông thoáng cho các doanh nghiệp đầu tư vào văn hóa như một ngành kinh tế mũi nhọn, có đóng góp trực tiếp vào sức mạnh kinh tế quốc gia.

Thứ hai đề xuất thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hợp tác đối tác công - tư trong việc đầu tư và vận hành hạ tầng văn hóa hiện đại. Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt thông qua quy hoạch chiến lược, hỗ trợ quỹ đất và các cơ chế nền tảng, trong khi doanh nghiệp tư nhân đóng vai trò chủ đạo trong việc đầu tư trang thiết bị công nghệ và vận hành chuyên nghiệp các tổ hợp sáng tạo, nhà hát, bảo tàng và các trung tâm biểu diễn đa năng. Việc hình thành các cụm liên kết sáng tạo tại các đô thị hạt nhân sẽ giúp tối ưu hóa chi phí sản xuất, tăng cường khả năng kết nối giữa các doanh nghiệp trong ngành và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm văn hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thứ ba nhấn mạnh vào việc minh bạch hóa và hiện đại hóa thị trường bản quyền bằng các ứng dụng công nghệ số tiên tiến. Việc triển khai các hệ thống trí tuệ nhân tạo để giám sát và thực thi quyền tác giả trên không gian mạng là chìa khóa then chốt để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các chủ thể sáng tạo. Khi hệ thống thu phí tác quyền vận hành công bằng, minh bạch và hiệu quả, các nghệ sĩ sẽ có động lực mạnh mẽ để tiếp tục cống hiến, đưa giá trị của hàm lượng chất xám trở thành tiền tệ thực thụ trong nền kinh tế sáng tạo. Điều này không chỉ giúp nghệ sĩ làm giàu chính đáng bằng tài năng của mình mà còn tạo nguồn lực tài chính ổn định để tái đầu tư cho các dự án nghệ thuật chất lượng cao hơn.

Thứ tư chú trọng đặc biệt đến công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu khắt khe của kỷ nguyên số và hội nhập quốc tế. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các học viện đào tạo nghệ thuật chuyên sâu với các doanh nghiệp công nghệ giải trí để xây dựng chương trình đào tạo liên ngành am hiểu cả về nghệ thuật, quản trị kinh doanh và luật pháp quốc tế. Việc đầu tư vào con người chính là đầu tư vào nguồn tài nguyên quý giá và bền vững nhất của nền kinh tế tri thức. Đội ngũ nhân sự kế cận phải được trang bị đầy đủ bản lĩnh, kiến thức và kỹ năng để thích ứng linh hoạt với môi trường sáng tạo toàn cầu, đưa tinh hoa văn hóa Việt Nam thẩm thấu sâu rộng vào đời sống quốc tế.

Thứ năm tập trung vào việc xây dựng chiến lược quảng bá thương hiệu quốc gia thông qua việc đăng cai và tổ chức các sự kiện văn hóa nghệ thuật mang tầm cỡ toàn cầu. Việt Nam cần chủ động tham gia và tổ chức các liên hoan phim, lễ hội âm nhạc và triển lãm nghệ thuật quốc tế để tạo cầu nối trực tiếp giữa tài năng trong nước với thị trường thế giới. Việc biến các giá trị bản sắc dân tộc độc đáo thành ngôn ngữ toàn cầu sẽ giúp khẳng định sức mạnh mềm của quốc gia, đồng thời thu hút dòng khách du lịch văn hóa chất lượng cao và tạo đà mạnh mẽ cho việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa nội địa ra nước ngoài, tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị sáng tạo toàn cầu.

Kết luận

Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược đến năm 2045, việc triển khai quyết liệt Kết luận số 80-KL/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa trong giai đoạn hiện nay và các nghị quyết từ Đại hội XIV của Đảng là nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt. Công nghiệp văn hóa phải được xác lập trong tư duy lãnh đạo và quản lý là một trụ cột kinh tế xanh, bền vững, đồng thời là mặt trận quan trọng để bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc trong dòng chảy toàn cầu hóa mạnh mẽ. Thành công của ngành không chỉ được đong đếm đơn thuần bằng những con số tăng trưởng GDP mà còn ở khả năng khơi dậy khát vọng cống hiến và niềm tự hào dân tộc sâu sắc của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Rất cần sự phối hợp gia đình chặt chẽ, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng nghệ sĩ và cộng đồng doanh nghiệp để xây dựng một môi trường kinh doanh nghệ thuật lành mạnh, minh bạch và chuyên nghiệp. Trong thành tích chung của ngành văn hóa nước nhà, Công nghiệp văn hóa nói chung và lĩnh vực âm nhạc nói riêng sẽ là mũi nhọn quan trọng đưa Việt Nam vươn tới tầm cao mới, trở thành quốc gia phát triển, văn hiến và thịnh vượng. Văn hóa không bao giờ đứng bên lề sự phát triển; văn hóa chính là dòng máu nóng chảy trong huyết quản của nền kinh tế hiện đại, dẫn dắt dân tộc vững bước trên con đường hội nhập và khẳng định bản lĩnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Thạc sĩ Nguyễn Thị Hương Giang - Trường Đại học Văn hoá Nghệ thuật Quân đội